Y Học Cổ Truyền

Điều trị ho khan bằng ngọc trúc

Ngọc trúc có công dụng làm thuốc bổ, chữa ho khan lâu ngày kèm họng khô.

Ngọc trúc (Polyvonaturn officinale All) là một loài thảo mộc thuộc họ Tiên mao (Aspraga), sống nhiều năm. Bộ phận dùng làm thuốc lá: thân lá, thân rễ của cây , rửa sạch, phơi hay sấy khô, cán cho mềm rồi phơi hoặc sấy khô. Là cây thân thảo cao 20-50 (40-65) cm. Thân rễ ở dưới trần, có các vây phía trên xen kẽ lên trên và trên cùng một mặt của thân có các gân lá gần như không cuống, không phân nhánh song song.

Hoa hình chữ nhật, hình chữ nhật, mọc đơn độc hoặc từng đôi, trên một thân, phiến nách của thùy trên, ở phía đối diện của thân so với lá. Mỗi hoa có ba lá đài, với ba cánh hoa đính thành ống màu trắng, dài khoảng 2 cm, rộng tầm 8 mm, viền xanh và năm lá nhỏ. Bao hoa có sáu nhị xếp với nhau, với các nhị ngắn, nhẵn và bao phấn bên trong. Ba lá noãn được dán vào chậu ba ô. Thương hiệu chia ba thùy đầu nhụy. Quả mọng hình tròn, màu xanh đen, chứa 3-6 hạt màu vàng, có đốm sáng. Cây sống lâu nhờ thân rễ, mỗi năm đâm chồi khi sinh chồi và để lại sẹo hình nhẫn trên thân rễ khi rụng. Hoa từ 4 đến 6 tháng, quả từ 8 đến 10 tháng.

Ngọc trúc

Công dụng

Aspagagine có công dụng lợi tiểu.

Polysacarit là thành phần hoạt tính sinh học chính của Ngọc trúc, có thể cải thiện khả năng miễn dịch và được sử dụng để điều trị bệnh thấp khớp, bệnh tim mạch và đái tháo đường.

Homoisoflavanone-1 được chiết xuất từ ​​Ngọc trúc có thể hoạt động như một chất ức chế ung thư và có tiềm năng như một phương pháp trị liệu mới chống lại ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.

Việc bổ sung Polysacarit chiết xuất từ Ngọc trúc có thể làm giảm các đặc điểm của bệnh béo phì ở chuột được cho ăn chế độ ăn nhiều chất béo. Liên quan đến điều hoà hệ vi sinh vật đường ruột.

Chiết xuất Ngọc trúc ức chế sự tăng sinh và gây ra apoptosis của tế bào ung thư vú MDA-MB-231

Cách chế biến

Dạng nguyên phiến: Thân rễ ngọc trúc đã phơi khô, thái vát thành phiến dài 3 – 5cm.

Dạng chưng: thân rễ đem ủ một ngày, đêm. Tiếp tục làm như vậy 2 – 3 lần đến khi thuốc có màu đen, rồi thái khúc dài 2 – 3cm.

Dạng tẩm bột mật ong: Ngọc trúc nguyên phiến tẩm đều với mật ong (cứ 10kg dược liệu dùng 1 – 1,5kg mật) trong 30 phút, rồi dùng lửa nhỏ sao đến khi có màu vàng, mài thơm, sờ không dính tay là được

Dạng tẩm rượu: Thân rễ 10kg đồ 8 giờ cho mềm, thái khúc, thêm rượu 1,5kg, rồi chưng trong 4 giờ.

Điều trị các bệnh

Trong y học cổ truyền, ngọc trúc có vị ngọt, tính mát, không độc, có tác dụng bổ dưỡng, sinh tân dịch, nhuận táo, tiêu đờm, chỉ khát, chống viêm, được dùng trong những trường hợp sau:

Chữa suy nhược cơ thể, sốt hầm hập, ho khan, miệng khô rát, mồ hôi trộm: ngọc trúc 16g, bạch thược, sa sâm, địa cốt bì, mạch môn, mỗi thứ 12g; ngân sài hồ 8g, trần bì 6g, bối mẫu 6g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa hư lao, sốt về chiều, ho nhiều: ngọc trúc 16g, đảng sâm, bạch truật, bách bộ, hoài sơn, mạch môn, mỗi thứ 12g; ngũ vị tử 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm khớp dạng thấp: Ngọc trúc, hà thủ ô, đan sâm, hoài sơn, mỗi thứ 40g; đương quy, đơn bì, bạch linh, trạch tả, mạch môn, mỗi thứ 20g; thanh bì, chỉ thực, sơn thù, mỗi thứ 10g. Tất cả thái nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật ong hoặc sirô làm viên 5g. Ngày uống 4 – 6g.

Chữa đau mắt đỏ: Ngọc trúc 12g; cúc hoa, huyền sâm, thảo quyết minh (sao), sinh địa, mỗi thứ 10g; bạc hà 2g. Sắc lấy nước uống và xông hơi.

Cấm kỵ

Người âm thịnh, dương hư, thấp đờm, có ứ trệ không được dùng ngọc trúc./.

Nguồn: suckhoedoisong.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.